Thứ Ba, 11 tháng 3, 2014

Băng kinh, băng huyết

BĂNG KINH

(Băng lậu)

I. Đại cương băng kinh

Ngoài kỳ hành kinh hoặc trong hành kinh mà ra huyết nhiều, thời gian hành kinh kéo dài hoặc ra huyết liên tục gọi là băng huyết, rong huyết (băng lậu). Huyết ra cấp tốc, thế đến cấp chảy xuống như trút, như dội nước gọi là "Băng" (Băng huyết); Huyết ra nhỏ giọt, thế đến chậm, ri rỉ không dứt nên gọi là "Lậu" (Rong huyết). Băng huyết rong huyết đều là huyết ở tử cung ra, Nhưng trong quá trình phát bệnh, hai cái ấy có thể chuyển hoá cho nhau bởi thế gọi chung là Băng lậu. Thường trên 200ml là kinh quá nhiều.
Hai chứng bệnh này có nhân quả lẫn nhau, bởi vì sau khi băng huyết rồi huyết thường còn chảy xuống từng giọt không dứt, mà chảy xuống từng giọt không dứt cũng thường gây ra băng đột ngột; Vì thế tính chất của hai bệnh này cơ bản là giống nhau, chỉ khác nhau ở mức độ mà thôi. Hai chứng này là từ kinh nguyệt bất điều mà ra, thương có quan hệ kinh bế, đặc biệt là phụ nữ ngoài 40 tuổi, thường có hiện tượng kinh nguyệt dừng lại mấy tháng rồi sau đó huyết băng như rót cần phải chú ý. Còn có trường hợp bệnh nhân tinh thần u uất, kinh nguyệt bế tắc cũng thường là tiền triệu của chứng băng lậu, vì thế chứng băng lậu nói chung có thể theo vào phép trị kinh nguyệt bất điều. Nhưng ở trường hợp mất huyết quá nhiều, huyết thoát khí kiệt thì cần phải đại tễ bổ khí để nhiếp huyết như Độc sâm thang mới có thể kiến hiệu.
Phụ nữ kinh nguyệt không đều theo chu kỳ mà cơ thể đã ấn định do huyết bị tích trệ, bị ứ lại lâu ngày thành lậu hạ khi huyết đã ứ nhiều hoặc cơ thể hư suy hoặc gặp các yếu tố thuận lợi gây ra ác huyết băng lậu...
Chứng băng huyết thể bệnh gấp, huyết ra nhiều là một loại bệnh tương đối nặng trong phụ khoa, nếu bệnh phát ra sau khi sinh nở là lúc khi huyết đều hư thì chứng trạng lại càng nặng hơn, mà dễ thấy hiện tượng hư thoát.
Phụ nữ có tuổi mà băng huyết, rong huyết trở đi trở lại mãi luôn, hoặc ra nhiều màu sắc lẫn lộn, đó là triệu chứng không tốt, phải chú ý chữa sớm.
Ngoài ra sau lúc đẻ cũng thường thấy băng huyết thì biện chứng luận trị cũng như băng huyết, rong huyết.
Trên lâm sàng bác sĩ Nguyễn như Hoàn chia ra các thể bệnh làm hai loại lớn là Hư chứng và Thực chứng.

II. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh.

Nguyên nhân do ăn uống không điều độ, lao quyện tổn thương hoặc bẩm tố tâm hỏa thừa tỳ hoặc do các nguyên nhân nội thương các tạng phủ, Xung, Nhâm, Đốc, Đới mất điều hòa... làm cho kinh sự không bài xuất mà gây ra. Theo nội kinh: Tỳ vị vi hậu thiên chi bản sinh khí chi nguyên mà tứ chi cơ nhục câu hệ vu tỳ do đó tỳ hư không sinh được khí, không thống nhiếp được huyết, không tư vinh được toàn thân. Tâm bào thừa hư gây ra cố lậu lâu ngày thành băng.

III. Biện chứng luận trị

Điểm cần kiểm tra để chẩn đoán:
1. Nói chung trước đó có dừng kinh thời gian ngắn (40-50 ngày), khi hành kinh đến lượng máu nhiều bất thường, kéo dài, không quy tắc, thậm chí có thể nhiều tuần lễ, tái phát nhiều lần mà dẫn tới thiếu máu.
2. Cần khám kiểm tra phụ khoa để loại trừ các bệnh có tính tổn thương khí chất của bộ máy sinh dục, nhất là ở phụ nữ thời gian mãn kinh, nhất định cần kiểm tra xem có u bướu hay không.
3. Khi ra máu lượng nhiều cần phải xem xét Huyết áp, mạch đập, chú ý là có hay không phát sinh choáng ngất.
4. Kiểm tra mạch thường xuyên, tiểu cầu, thời gian đông máu, xác minh mức độ thiếu máu.
Phương pháp điều trị:
Biện chứng luận trị:
Băng lậu huyết có phân ra Hư và Thực. Hư chứng lấy Khí hư làm chủ, Thực chứng lấy Huyết nhiệt, Ứ trệ làm thường thấy.
Trị liệu thì dựa vào nguyên tắc "Cấp tắc trị tiêu, hoạn tắc trị bản", chọn dùng phương pháp chỉ huyết thanh nhiệt, ích khí hoá ứ, điều lý tỳ vị. Tóm lại trị Băng huyết nên dùng pháp cố sắp thăng đề, không nên dùng tân ôn hành huyết; Trị Lậu nên dùng pháp dưỡng huyết điều khí không thể nghiêng về cố nhiếp.

A. CHỨNG HƯ

1. Thể khí hư
a. Triệu chứng:
Lượng huyết ra nhiều, hoặc ra dầm dề không ngớt, màu đỏ nhợt mà trong, tinh thần mỏi mệt, ngắn hơi ngại nói, không thiết ăn uống, đại tiện lỏng hoặc sợ lạnh, tự đổ mồ hôi, lưỡi nhợt rêu mỏng mà ướt, mạch đại vô lực hoặc tế nhược. Nặng hơn thì hai mắt mờ tối, xây xẩm, ngã ra bất tỉnh nhân sự, mạch vi muốn tuyệt.
Nếu người tâm tỳ đều hư thì kiêm sắc mặt vàng úa, hay quên, hồi hộp, mất ngủ, thích nằm, mạch trầm nhược.
b. Phương pháp điều trị: Bổ khí nhiếp huyết
c. Phương thuốc: dùng Bổ trung ích khí thang gia Trắc bá diệp, Hương phụ.
Hoàng kỳ 16g
Trần bì 6g
Nhân sâm 12g
Sinh khương 4g
Quy thân 10g
Đại táo 12g
Bạch truật 12g
Thăng ma 8g
Chích thảo 4g
Sài hồ 8g
Trắc bá diệp 12
Hương phụ 12

- Trường hợp huyết ra quá nhiều, gây mạch nhanh, huyết áp tụt, đầu choáng, mắt mờ, muốn ngã, cần cấp cứu bằng Độc sâm thang: Nhân sâm 12g (có thể dùng đẳng sâm hoặc bào sâm mà thay, liều tối thiểu là 40g), sắc uống hết 1 lần.
+ Hoặc dùng bài Sâm phụ thang:
Nhân sâm 16g  Phụ tử chế 8g gia Sinh khương 4g, Đại táo 12g sắc uống.
+ Hoặc dùng bài Cố bản chỉ băng:
Nhân sâm 12g
Hoàng kỳ 12g
Bạch truật 20g
Thục địa 20g
Đương quy 12g
Hoắc hương 6g


+ Hoặc dùng bài Cứu bại cầu sinh thang
Nhân sâm 12g
Bạch truật 12g
Hoài sơn 12g
Phụ tử chế 8g
Thục địa 12g
Đương quy 12g
Sơn thù 8g
Táo nhân 10g
- Trường hợp Tâm tỳ đều hư thì dùng bài Quy tỳ thang
Nhân sâm 12g
Đương quy 12g
Mộc hương 6g
Táo nhân 10g
Long nhãn 12g
Đại táo 12g
Hoàng kỳ 16g
Bạch truật 12g
Viễn chí 6g
Phục thần 12g
Cam thảo c 4g
Địa hoàng 12g
Trần tông thán 12
Ô tặc cốt 20g
Đoạn mẫu lễ 30g

Trần tông thán (Than bẹ móc lâu năm)
Gia giảm:
+ Nếu thấy đầu tối, tai ù, lưng buốt, chi mềm, đi tiểu nhiều là chứng Thận hư gia thêm Lộc giác giao 12g, Thỏ ty tử 12g, Tục đoạn 12g, Phúc bồn tử 12g.
+ Nếu thấy ra máu nhỏ giọt, lâu ngày mà kiêm thấy đầu tối, tâm hoảng, mồ hôi trộm, miệng khát là chứng trạng âm huyết khuy hư, gia thêm Bạch thược 12g, A giao 12g đun chảy ra rót vào lúc uống, Hà thủ ô 16g.
- Trường hợp sau để bị Băng kinh thì phải đề phòng Huyết thoát, khí hãm xuống thường dùng Thập toàn đại bổ thang:
Đẳng sâm 12g
Bạch truật 12g
Bạch linh 12g
Thục địa 12g
Bạch thược 10g
Hoàng kỳ 12g
Nhục quế 6g
Đương quy 10g
Xuyên khung 8g
Chích thảo 4g


Có thể thêm A giao, Thăng ma, Tam thất.
+ hoặc dùng: Cố khí thang
Nhân sâm 12g
Đương quy 12g
Đỗ trọng 12g
Thục địa 12g
Bạch truật 12g
Viễn chí 6g
Bạch linh 12g
Ngũ vị 6g
Sơn thù 8g
Cam thảo 4g


- Trường hợp Trung khí hư, băng lậu huyết ra lẫn nước, thường gầy, ăn uống không được, chân tay buồn bã thì dùng bài Đại tễ bổ trung ích khí thang.
Hoàng kỳ 24g
Nhân sâm 24g
Cam thảo 24g
Bạch truật 24g
Đương quy 16g
Trần bì 16g



2. Thể dương hư
a. Triệu chứng: Băng huyết, rong huyết lâu ngày không hết, sắc mặt luôn luôn nhợt hoặc xám, bụng dưới lạnh hoặc chỗ rốn bị lạnh đau, thích chườm nóng, đau lưng, mỏi gối, người sợ lạnh, rêu lưỡi trắng nhợt, mạch trầm trì.
b. Phương pháp điều trị: ôn dương bổ hư.
c. Phương thuốc: Giao ngải tứ vật thang gia Phụ tử chế, Hoắc khương, Lộc giác giao.
Thục địa 12g
Đương quy 12g
Bạch thược 12g
Cam thảo 4g
A giao 10g
Ngải diệp 10g
Xuyên khung 6g


3. Thể âm hư
a. Triệu chứng: Băng huyết, rong huyết ra lượng nhiều, màu huyết đỏ sẫm, thân thể gầy yếu, đầu choáng, tai ù, miệng khô, họng ráo, tâm phiền, lưng đau, sốt cơn, lòng bàn tay bàn chân nóng, đêm ngủ không yên, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch tế sác.
Nếu băng huyết, rong huyết lâu ngày không khỏi đến nỗi huyết hư thì sắc mặt vàng úa, miệng môi và móng tay xanh nhợt, đầu choáng, tim hồi hộp, tâm thần hoảng loạn, hoặc có lúc bụng cồn cào như đói, hoặc có lúc gò má đỏ, chất lưỡi đỏ nhợt, rêu lưỡi vàng khô, mạch trầm tế.
b. Phương pháp điều trị: Tư âm, dưỡng huyết
c. Phương thuốc: Lục vị địa hoàng thang
Thục địa 320g
Sơn thù 160g
Sơn dược 160g
Bạch linh 120g
Trạch tả 120g
Đan bì 120g


Các vị tán bột hoà với cao địa hoàng, mật ong làm viên hoàn bằng hạt ngô đồng, mỗi lần uống 2-3 viên với nước muối nhạt, hoặc nước sôi vào lúc đói.
Chữa chứng âm hư băng lậu thường gia thêm Ô tặc cốt, Long cốt, Mẫu lệ.
- Trường hợp âm hư hoả vượng, lượng kinh ra nhiều, màu đỏ, có cơn bốc hoả, miệng khô, khát nước, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch tế sác thì cần Tư âm giáng hoả dùng bài Thanh hải hoàn
Thụa địa 20g
Bạch truật 12g
Sa sâm 12g
Sơn thù 12g
Long cốt 15g
Mạch môn 12g
Ngũ vị 8g
Huyền sâm 12g
Hoài sơn 12g
Bạch thược 12g
Thạch hộc 10g
Đan bì 12g
Địa cốt bì 12g
Tang diệp 10g


- Trường hợp bệnh lâu ngày kèm huyết hư thì nên bổ huyết, cầm huyết. Dùng bài Giao ngải tứ vật thang gia giảm
Thục địa 12g
Đương quy 12g
Bạch thược 12g
Cam thảo 4g
A giao 10g
Ngải diệp 10g
Xuyên khung 6g

 

Phòng khám đông y Hoàn xuân đường chuyên chữa bệnh Băng kinh băng huyết bằng đông y

B. THỰC CHỨNG

1. Thể huyết nhiệt
a. Triệu chứng: Ngoài kỳ kinh huyết ra nhiều không dứt hoặc ra dầm dề không cầm, lâu ngày không dừng, Sắc kinh hồng sẫm, người nóng khó chịu, phiền nhiệt, miệng kh, khát nước, tinh thần hoảng hốt, đầu choáng, ngủ không ngon, lưỡi hồng, rêu lưỡi vang mà khô, mạch hoạt sác.
b. Phương pháp điều trị: Thanh nhiệt lương huyết chỉ huyết
c. Phương thuốc: dùng 1 trong các bài thuốc sau:
Bài thuốc 1: Thanh nhiệt cố kinh thang
Quy bản 20g
A giao 12g
Mẫu lễ 20g
Địa du 12g
Than Tông lư 12g
Cam thảo 4g
Địa cốt bì 12g
Chi tử 12g
Hoàng cầm 8g
Ngẫu tiết 12g
Sinh địa 12g

Bài thuốc 2: nếu nhiệt ít thì dùng Kinh cầm tứ vật thang
Sinh địa 12g
kinh giới 12g
Xuyên khung 4g
Đương quy 12g
Bạch thược 12g
Hoàng cầm 6g


Bài thuốc 3: hoặc bài thuốc kinh nghiệm:
Sơn chi thán 12g
Bạch thược 12g
Địa du thán 12g
Kinh giới tuệ thán12
Sinh mẫu lễ 20g
Hoàng bá sao 8g
Sinh địa sao 20g
Chích quy bản 32g
 2. Thể thấp nhiệt:
 a. Triệu chứng lâm sàng: Kinh thủy đã bế quá 3, 4 kỳ, đau bụng từng cơn cự án, bụng trướng, háo khát, thích ăn thức ăn mát, băng kinh nhiều, kinh thủy màu đỏ tươi, lẫn máu cục, máu ra nhiều, người mệt mỏi, đại tiện táo, tiểu tiện vàng sẻn, môi đỏ, khô, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng. Mạch tế sác.
Nếu nặng về thấp thì sắc mặt vàng, mi mắt sưng híp, ngực bực tức, miệng nhớt dính, đại tiện lỏng, rêu lưỡi trắng nhợt, mạch nhu hoãn.
Nếu nặng về nhiệt thì mình nóng, tự đổ mồ hôi, miệng đắng, tâm phiền, bụng dưới nóng đau, đại tiện bí kết, tiểu tiện vàng đỏ, chất lưỡi hồng, rêu lưỡi khô, mạch trầm sác.

b. Phương pháp điều trị: Thanh nhiệt trừ thấp, thông kinh.
c. Bài thuốc:
- Bài thuốc 1: Cố kinh hợp giao ngải thang
Thung căn bì 10g
Bạch thược 16g
Hoàng cầm 18g
Hoàng bá 10g
Quy bản 18g
Hương phụ 16g
Thục địa hoàng 10g
Khung cùng 10g
Cam thảo 6g
A giao 10g
Ngại diệp 10g
Đương quy 12g
* Cách bào chế: Thung căn bì cạo bỏ vỏ ngoài tẩm nước gạo vi sao, Bạch thược tẩm giấm, Hoàng cầm và hoàng bá tẩm rượu, Hương phụ tứ chế. Các vị trên cho vào 2000ml nước sắc lọc bỏ bã lấy 200ml.
* Cách dùng: uống ấm chia đều ngày 4 lần.
- Bài thuốc 2: Di hoàng thang
Hoài sơn 30g
Khiếm thực 20g
Xa tiền 12g
Hoàng bá 12g
Chi tử hắc 12g



- Trường hợp nếu thiên về thấp thì dùng bài Điều kinh thăng dương trừ thấp thang:
Khương hoạt 8g
Độc hoạt 6g
Trương truật 10g
Hoàng kỳ 12g
Thăng ma 8g
Cam thảo 4g
Phòng phong 8g
Cảo bản 6g
Mạn kinh tử 8g
Sài hồ 8g
Đương quy 12g

- Trường hợp Nếu thiên về nhiệt thì dùng bài Hoàng liên giải độc thang
Hoàng liên 8g
Hoàng cầm 10g
Hoàng bá 6g
Chi tử 10g

* Châm cứu: + Châm tả: Đại đôn, Âm cốc, Thái xung, Nhiên cốc.
                      + Châm tả: Tam âm giao, Trung cực.
3. Thể huyết ứ:
a. Triệu chứng: Băng huyết, rong huyết ra rất nhiều, hoặc dầm dề không cầm, sắc đen tím có máu cục, bụng dưới đau cự án, khi máu cục ra rồi thì bớt đau, chất lưỡi có điểm ứ huyết, mạch trầm sáp.
b. Phương pháp điều trị: hoạt huyết, thông ứ để chỉ huyết
c. Phương thuốc:
- Thất tiêu tán hợp phật thủ tán
Bài thất tiếu tán: Bồ hoàng (nửa sống, nửa sao), Ngũ linh chi. 2 vị bằng nhau tán bột, mỗi lần dùng 8g, sắc với nước đồng tiện và rượu, mỗi thứ 1 nữa mà uống.
Bài phật thủ tán: Xuyên khung 10g, Đương quy 60g. Cùng tán bột, mỗi lần dùng 8g, nước 1 chén rượu 1/2 chén, sắc lấy 1/2 chén uống ấm, ngày uống 2 lần.
- Hoặc dùng bài Đào hồng tứ vật thang :
Xuyên khung 10g
Xuyên quy 12g
Địa hoàng 12g
Đào nhân 8g
Hồng hoa 6g
Bạch thược 10g


- Trường hợp huyết ứ mà băng huyết ra nhiều thì dùng bài Chấn linh đan:
Xích thạch chi 160g
Chu sa 40g
Ngũ linh chi 80g
Vũ dư lương 160g
Tử thạch anh 160g
Nhũ hương 80g
Mộc dược 80g
Đại giả thạch 160
Vũ dư lương và Đại giả thạch: nung lửa, tôi vào giấm cho bở ra.
Cùng đập vỡ thành cục nhỏ, bỏ vào nồi đất, lấy bùn lẫn muối trát kín nồi lại đợt khô, dùng 10 cân than củi nung đỏ hồng, hết lửa là được, chôn xuống đất 2 hôm cho ra hết hoả độc. Tất cả các vị tán bột, lấy bột nếp nấu hồ làm hoàn bằng hạt đậu đen phơi khô, mỗi lần uống 1 viên với giấm lúc đói, ngày uống 2 lần.
- Trường hợp sang thương bị băng huyết, bụng đau cự án thì dùng bài Trục ứ chỉ huyết thang.
Sinh địa 12g
Quy bản 12g
Chỉ xác 6g
Xích thược 10g
Đại hoàng 8g
Quy vĩ 12g
Đan bì 12g
Đào nhân 8g
- Trường hợp Băng huyết ra nhiều máu cục, đau bụng dữ dội, sắc mặt nhợt nhạt, chân tay giá lạnh, mồ hôi nhiều dùng ngay Nhân sâm định thống tán:
Nhân sâm 20g  Bồ hoàng 20g.
4. Thể khí uất:
a. Triệu chứng: Bồng nhiên băng huyết, rong kinh máu ra rất nhiều, hoặc dầm dề lâu ngày không dứt, sắc đen tím hoặc như bình thường lẫn có máu cục, bụng dưới trướng đau, ấn đau, thậm chí đau lên ngực và sườn, phiền thao dễ cáu gắt, thỉnh thoảng lại thở dài, rêu lưỡi dày, mạch huyền.
b. Phương pháp điều trị: Bình can giải uất, mượn lấy chỉ huyết.
c. Bài thuốc: Khai uất tứ vật thang
Thục địa 12g
Bạch thược 12g
Đương quy 12g
Xuyên khung 6g
Hoàng kỳ 10g
hương phu 12g
Địa du 8g
Bồ hoàng 8g
Nhân sâm 8g
Bạch truật 12g


- Trường hợp uất lâu hoá hoả gây miệng đắng, họng khô mạch huyền sác thì dùng bài Đan chi tiêu giao tán gia Địa du:
Sài hồ 8g
Bạch truật 12g
Bạch linh 12g
Đan bì 8g
Cam thảo 4g
Bạc hà 6g
Sinh khương 4g
Chi tử 8g
Bạch thược 12g
Đương quy 8g


+ Hoặc dùng Bình can khai uất chỉ huyết thang:
Sài hồ 8g
Kinh giới tuệ 8g
Đan bì 12g
Bạch truật 12g
Cam thảo 4g
Sinh địa 12g
Bạch thược 12g
Tam thất căn 12g
Đương quy 12g



+ Bài thuốc kinh nghiệm:
Ngũ linh chi sao16
Bồ hoàng thán 12


Ô tặc cốt nung 6g
Hương phụ 16g


Tán bột ngày uống 16g chia 2 lần.


                        

0 nhận xét:

Đăng nhận xét