BĂNG KINH
(Băng lậu)
I. Đại cương băng kinh
Ngoài kỳ hành kinh hoặc trong hành kinh mà ra huyết nhiều,
thời gian hành kinh kéo dài hoặc ra huyết liên tục gọi là băng huyết, rong
huyết (băng lậu). Huyết ra cấp tốc, thế đến cấp chảy xuống như trút, như dội
nước gọi là "Băng" (Băng huyết); Huyết ra nhỏ giọt, thế đến chậm, ri
rỉ không dứt nên gọi là "Lậu" (Rong huyết). Băng huyết rong huyết đều
là huyết ở tử cung ra, Nhưng trong quá trình phát bệnh, hai cái ấy có thể
chuyển hoá cho nhau bởi thế gọi chung là Băng lậu. Thường trên 200ml là kinh
quá nhiều.
Hai chứng bệnh này có nhân quả lẫn nhau, bởi vì sau khi băng huyết rồi huyết thường còn chảy xuống từng giọt không dứt, mà chảy xuống từng
giọt không dứt cũng thường gây ra băng đột ngột; Vì thế tính chất của hai bệnh
này cơ bản là giống nhau, chỉ khác nhau ở mức độ mà thôi. Hai chứng này là từ
kinh nguyệt bất điều mà ra, thương có quan hệ kinh bế, đặc biệt là phụ nữ ngoài
40 tuổi, thường có hiện tượng kinh nguyệt dừng lại mấy tháng rồi sau đó huyết
băng như rót cần phải chú ý. Còn có trường hợp bệnh nhân tinh thần u uất, kinh
nguyệt bế tắc cũng thường là tiền triệu của chứng băng lậu, vì thế chứng băng
lậu nói chung có thể theo vào phép trị kinh nguyệt bất điều. Nhưng ở trường hợp
mất huyết quá nhiều, huyết thoát khí kiệt thì cần phải đại tễ bổ khí để nhiếp
huyết như Độc sâm thang mới có thể kiến hiệu.
Phụ nữ kinh nguyệt không đều theo chu kỳ mà cơ thể đã ấn
định do huyết bị tích trệ, bị ứ lại lâu ngày thành lậu hạ khi huyết đã ứ nhiều
hoặc cơ thể hư suy hoặc gặp các yếu tố thuận lợi gây ra ác huyết băng lậu...
Chứng băng huyết thể bệnh gấp, huyết ra nhiều là một loại
bệnh tương đối nặng trong phụ khoa, nếu bệnh phát ra sau khi sinh nở là lúc khi
huyết đều hư thì chứng trạng lại càng nặng hơn, mà dễ thấy hiện tượng hư thoát.
Phụ nữ có tuổi mà băng huyết, rong huyết trở đi trở lại mãi
luôn, hoặc ra nhiều màu sắc lẫn lộn, đó là triệu chứng không tốt, phải chú ý
chữa sớm.
Ngoài ra sau lúc đẻ cũng thường thấy băng huyết thì biện
chứng luận trị cũng như băng huyết, rong huyết.
Trên lâm sàng bác sĩ Nguyễn như Hoàn chia ra các thể bệnh
làm hai loại lớn là Hư chứng và Thực chứng.
II. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh.
Nguyên nhân do ăn uống không điều độ, lao quyện tổn thương
hoặc bẩm tố tâm hỏa thừa tỳ hoặc do các nguyên nhân nội thương các tạng phủ,
Xung, Nhâm, Đốc, Đới mất điều hòa... làm cho kinh sự không bài xuất mà gây ra.
Theo nội kinh: Tỳ vị vi hậu thiên chi bản sinh khí chi nguyên mà tứ chi cơ nhục
câu hệ vu tỳ do đó tỳ hư không sinh được khí, không thống nhiếp được huyết,
không tư vinh được toàn thân. Tâm bào thừa hư gây ra cố lậu lâu ngày thành
băng.
III. Biện chứng luận trị
Điểm cần kiểm tra để chẩn đoán:
1. Nói chung trước đó có dừng kinh thời gian ngắn (40-50
ngày), khi hành kinh đến lượng máu nhiều bất thường, kéo dài, không quy tắc,
thậm chí có thể nhiều tuần lễ, tái phát nhiều lần mà dẫn tới thiếu máu.
2. Cần khám kiểm tra phụ khoa để loại trừ các bệnh có tính
tổn thương khí chất của bộ máy sinh dục, nhất là ở phụ nữ thời gian mãn kinh,
nhất định cần kiểm tra xem có u bướu hay không.
3. Khi ra máu lượng nhiều cần phải xem xét Huyết áp, mạch
đập, chú ý là có hay không phát sinh choáng ngất.
4. Kiểm tra mạch thường xuyên, tiểu cầu, thời gian đông máu,
xác minh mức độ thiếu máu.
Phương pháp điều trị:
Biện chứng luận trị:
Băng lậu huyết có phân ra Hư và Thực. Hư chứng lấy Khí hư
làm chủ, Thực chứng lấy Huyết nhiệt, Ứ trệ làm thường thấy.
Trị liệu thì dựa vào nguyên tắc "Cấp tắc trị tiêu, hoạn
tắc trị bản", chọn dùng phương pháp chỉ huyết thanh nhiệt, ích khí hoá ứ,
điều lý tỳ vị. Tóm lại trị Băng huyết nên dùng pháp cố sắp thăng đề, không nên
dùng tân ôn hành huyết; Trị Lậu nên dùng pháp dưỡng huyết điều khí không thể
nghiêng về cố nhiếp.
A. CHỨNG HƯ
1. Thể khí hư
a. Triệu chứng:
Lượng huyết ra nhiều, hoặc ra dầm dề không ngớt, màu đỏ nhợt
mà trong, tinh thần mỏi mệt, ngắn hơi ngại nói, không thiết ăn uống, đại tiện
lỏng hoặc sợ lạnh, tự đổ mồ hôi, lưỡi nhợt rêu mỏng mà ướt, mạch đại vô lực
hoặc tế nhược. Nặng hơn thì hai mắt mờ tối, xây xẩm, ngã ra bất tỉnh nhân sự,
mạch vi muốn tuyệt.
Nếu người tâm tỳ đều hư thì kiêm sắc mặt vàng úa, hay quên,
hồi hộp, mất ngủ, thích nằm, mạch trầm nhược.
b. Phương pháp điều trị: Bổ khí nhiếp huyết
c. Phương thuốc: dùng Bổ trung ích khí thang gia Trắc bá
diệp, Hương phụ.
Hoàng kỳ 16g
|
Trần bì 6g
|
Nhân sâm 12g
|
Sinh khương 4g
|
Quy thân 10g
|
Đại táo 12g
|
Bạch truật 12g
|
Thăng ma 8g
|
Chích thảo 4g
|
Sài hồ 8g
|
Trắc bá diệp 12
|
Hương phụ 12
|
- Trường hợp huyết ra quá nhiều, gây mạch nhanh, huyết áp
tụt, đầu choáng, mắt mờ, muốn ngã, cần cấp cứu bằng Độc sâm thang: Nhân sâm 12g
(có thể dùng đẳng sâm hoặc bào sâm mà thay, liều tối thiểu là 40g), sắc uống
hết 1 lần.
+ Hoặc dùng bài Sâm phụ thang:
Nhân sâm 16g Phụ tử
chế 8g gia Sinh khương 4g, Đại táo 12g sắc uống.
+ Hoặc dùng bài Cố bản chỉ băng:
Nhân sâm 12g
|
Hoàng kỳ 12g
|
Bạch truật 20g
|
Thục địa 20g
|
Đương quy 12g
|
Hoắc hương 6g
|
+ Hoặc dùng bài Cứu bại cầu sinh thang
Nhân sâm 12g
|
Bạch truật 12g
|
Hoài sơn 12g
|
Phụ tử chế 8g
|
Thục địa 12g
|
Đương quy 12g
|
Sơn thù 8g
|
Táo nhân 10g
|
- Trường hợp Tâm tỳ đều hư thì dùng bài Quy tỳ thang
Nhân sâm 12g
|
Đương quy 12g
|
Mộc hương 6g
|
Táo nhân 10g
|
Long nhãn 12g
|
Đại táo 12g
|
Hoàng kỳ 16g
|
Bạch truật 12g
|
Viễn chí 6g
|
Phục thần 12g
|
Cam thảo c 4g
|
Địa hoàng 12g
|
Trần tông thán 12
|
Ô tặc cốt 20g
|
Đoạn mẫu lễ 30g
|
Trần tông thán (Than bẹ móc lâu năm)
Gia giảm:
+ Nếu thấy đầu tối, tai ù, lưng buốt, chi mềm, đi tiểu nhiều
là chứng Thận hư gia thêm Lộc giác giao 12g, Thỏ ty tử 12g, Tục đoạn 12g, Phúc
bồn tử 12g.
+ Nếu thấy ra máu nhỏ giọt, lâu ngày mà kiêm thấy đầu tối,
tâm hoảng, mồ hôi trộm, miệng khát là chứng trạng âm huyết khuy hư, gia thêm
Bạch thược 12g, A giao 12g đun chảy ra rót vào lúc uống, Hà thủ ô 16g.
- Trường hợp sau để bị Băng kinh thì phải đề phòng Huyết
thoát, khí hãm xuống thường dùng Thập toàn đại bổ thang:
Đẳng sâm 12g
|
Bạch truật 12g
|
Bạch linh 12g
|
Thục địa 12g
|
Bạch thược 10g
|
Hoàng kỳ 12g
|
Nhục quế 6g
|
Đương quy 10g
|
Xuyên khung 8g
|
Chích thảo 4g
|
Có thể thêm A giao, Thăng ma, Tam thất.
+ hoặc dùng: Cố khí thang
Nhân sâm 12g
|
Đương quy 12g
|
Đỗ trọng 12g
|
Thục địa 12g
|
Bạch truật 12g
|
Viễn chí 6g
|
Bạch linh 12g
|
Ngũ vị 6g
|
Sơn thù 8g
|
Cam thảo 4g
|
- Trường hợp Trung khí hư, băng lậu huyết ra lẫn nước,
thường gầy, ăn uống không được, chân tay buồn bã thì dùng bài Đại tễ bổ trung
ích khí thang.
Hoàng kỳ 24g
|
Nhân sâm 24g
|
Cam thảo 24g
|
Bạch truật 24g
|
Đương quy 16g
|
Trần bì 16g
|
2. Thể dương hư
a. Triệu chứng: Băng huyết, rong huyết lâu ngày không hết,
sắc mặt luôn luôn nhợt hoặc xám, bụng dưới lạnh hoặc chỗ rốn bị lạnh đau, thích
chườm nóng, đau lưng, mỏi gối, người sợ lạnh, rêu lưỡi trắng nhợt, mạch trầm
trì.
b. Phương pháp điều trị: ôn dương bổ hư.
c. Phương thuốc: Giao ngải tứ vật thang gia Phụ tử chế, Hoắc
khương, Lộc giác giao.
Thục địa 12g
|
Đương quy 12g
|
Bạch thược 12g
|
Cam thảo 4g
|
A giao 10g
|
Ngải diệp 10g
|
Xuyên khung 6g
|
3. Thể âm hư
a. Triệu chứng: Băng huyết, rong huyết ra lượng nhiều, màu
huyết đỏ sẫm, thân thể gầy yếu, đầu choáng, tai ù, miệng khô, họng ráo, tâm
phiền, lưng đau, sốt cơn, lòng bàn tay bàn chân nóng, đêm ngủ không yên, chất
lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch tế sác.
Nếu băng huyết, rong huyết lâu ngày không khỏi đến nỗi huyết
hư thì sắc mặt vàng úa, miệng môi và móng tay xanh nhợt, đầu choáng, tim hồi
hộp, tâm thần hoảng loạn, hoặc có lúc bụng cồn cào như đói, hoặc có lúc gò má
đỏ, chất lưỡi đỏ nhợt, rêu lưỡi vàng khô, mạch trầm tế.
b. Phương pháp điều trị: Tư âm, dưỡng huyết
c. Phương thuốc: Lục vị địa hoàng thang
Thục địa 320g
|
Sơn thù 160g
|
Sơn dược 160g
|
Bạch linh 120g
|
Trạch tả 120g
|
Đan bì 120g
|
Các vị tán bột hoà với cao địa hoàng, mật ong làm viên hoàn
bằng hạt ngô đồng, mỗi lần uống 2-3 viên với nước muối nhạt, hoặc nước sôi vào
lúc đói.
Chữa chứng âm hư băng lậu thường gia thêm Ô tặc cốt, Long
cốt, Mẫu lệ.
- Trường hợp âm hư hoả vượng, lượng kinh ra nhiều, màu đỏ,
có cơn bốc hoả, miệng khô, khát nước, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch tế sác
thì cần Tư âm giáng hoả dùng bài Thanh hải hoàn
Thụa địa 20g
|
Bạch truật 12g
|
Sa sâm 12g
|
Sơn thù 12g
|
Long cốt 15g
|
Mạch môn 12g
|
Ngũ vị 8g
|
Huyền sâm 12g
|
Hoài sơn 12g
|
Bạch thược 12g
|
Thạch hộc 10g
|
Đan bì 12g
|
Địa cốt bì 12g
|
Tang diệp 10g
|
- Trường hợp bệnh lâu ngày kèm huyết hư thì nên bổ huyết,
cầm huyết. Dùng bài Giao ngải tứ vật thang gia giảm
Thục địa 12g
|
Đương quy 12g
|
Bạch thược 12g
|
Cam thảo 4g
|
A giao 10g
|
Ngải diệp 10g
|
Xuyên khung 6g
|
B. THỰC CHỨNG
1. Thể huyết nhiệt
a. Triệu chứng: Ngoài kỳ kinh huyết ra nhiều không dứt hoặc
ra dầm dề không cầm, lâu ngày không dừng, Sắc kinh hồng sẫm, người nóng khó
chịu, phiền nhiệt, miệng kh, khát nước, tinh thần hoảng hốt, đầu choáng, ngủ
không ngon, lưỡi hồng, rêu lưỡi vang mà khô, mạch hoạt sác.
b. Phương pháp điều trị: Thanh nhiệt lương huyết chỉ huyết
c. Phương thuốc: dùng 1 trong các bài thuốc sau:
Bài thuốc 1: Thanh nhiệt cố kinh thang
Quy bản 20g
|
A giao 12g
|
Mẫu lễ 20g
|
Địa du 12g
|
Than Tông lư 12g
|
Cam thảo 4g
|
Địa cốt bì 12g
|
Chi tử 12g
|
Hoàng cầm 8g
|
Ngẫu tiết 12g
|
Sinh địa 12g
|
Bài thuốc 2: nếu nhiệt ít thì dùng Kinh cầm tứ vật thang
Sinh địa 12g
|
kinh giới 12g
|
Xuyên khung 4g
|
Đương quy 12g
|
Bạch thược 12g
|
Hoàng cầm 6g
|
Bài thuốc 3: hoặc bài thuốc kinh nghiệm:
Sơn chi thán 12g
|
Bạch thược 12g
|
Địa du thán 12g
|
Kinh giới tuệ thán12
|
Sinh mẫu lễ 20g
|
Hoàng bá sao 8g
|
Sinh địa sao 20g
|
Chích quy bản 32g
|
2. Thể thấp nhiệt:
a. Triệu chứng lâm
sàng: Kinh thủy đã bế quá 3, 4 kỳ, đau bụng từng cơn cự án, bụng trướng, háo
khát, thích ăn thức ăn mát, băng kinh nhiều, kinh thủy màu đỏ tươi, lẫn máu
cục, máu ra nhiều, người mệt mỏi, đại tiện táo, tiểu tiện vàng sẻn, môi đỏ,
khô, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng. Mạch tế sác.
Nếu nặng về thấp thì sắc mặt vàng, mi mắt sưng híp, ngực bực
tức, miệng nhớt dính, đại tiện lỏng, rêu lưỡi trắng nhợt, mạch nhu hoãn.
Nếu nặng về nhiệt thì mình nóng, tự đổ mồ hôi, miệng đắng,
tâm phiền, bụng dưới nóng đau, đại tiện bí kết, tiểu tiện vàng đỏ, chất lưỡi
hồng, rêu lưỡi khô, mạch trầm sác.
b. Phương pháp điều trị: Thanh nhiệt trừ thấp, thông kinh.
c. Bài thuốc:
- Bài thuốc 1: Cố kinh hợp giao ngải thang
Thung căn bì 10g
|
Bạch thược 16g
|
Hoàng cầm 18g
|
Hoàng bá 10g
|
Quy bản 18g
|
Hương phụ 16g
|
Thục địa hoàng 10g
|
Khung cùng 10g
|
Cam thảo 6g
|
A giao 10g
|
Ngại diệp 10g
|
Đương quy 12g
|
* Cách bào chế: Thung căn bì cạo bỏ vỏ ngoài tẩm nước gạo vi
sao, Bạch thược tẩm giấm, Hoàng cầm và hoàng bá tẩm rượu, Hương phụ tứ chế. Các
vị trên cho vào 2000ml nước sắc lọc bỏ bã lấy 200ml.
* Cách dùng: uống ấm chia đều ngày 4 lần.
- Bài thuốc 2: Di hoàng thang
Hoài sơn 30g
|
Khiếm thực 20g
|
Xa tiền 12g
|
Hoàng bá 12g
|
Chi tử hắc 12g
|
- Trường hợp nếu thiên về thấp thì dùng bài Điều kinh thăng
dương trừ thấp thang:
Khương hoạt 8g
|
Độc hoạt 6g
|
Trương truật 10g
|
Hoàng kỳ 12g
|
Thăng ma 8g
|
Cam thảo 4g
|
Phòng phong 8g
|
Cảo bản 6g
|
Mạn kinh tử 8g
|
Sài hồ 8g
|
Đương quy 12g
|
- Trường hợp Nếu thiên về nhiệt thì dùng bài Hoàng liên giải
độc thang
Hoàng liên 8g
|
Hoàng cầm 10g
|
Hoàng bá 6g
|
Chi tử 10g
|
* Châm cứu: + Châm tả: Đại đôn, Âm cốc, Thái xung, Nhiên
cốc.
+ Châm tả: Tam âm giao,
Trung cực.
3. Thể huyết ứ:
a. Triệu chứng: Băng huyết, rong huyết ra rất nhiều, hoặc
dầm dề không cầm, sắc đen tím có máu cục, bụng dưới đau cự án, khi máu cục ra
rồi thì bớt đau, chất lưỡi có điểm ứ huyết, mạch trầm sáp.
b. Phương pháp điều trị: hoạt huyết, thông ứ để chỉ huyết
c. Phương thuốc:
- Thất tiêu tán hợp phật thủ tán
Bài thất tiếu tán: Bồ hoàng (nửa sống, nửa sao), Ngũ linh
chi. 2 vị bằng nhau tán bột, mỗi lần dùng 8g, sắc với nước đồng tiện và rượu,
mỗi thứ 1 nữa mà uống.
Bài phật thủ tán: Xuyên khung 10g, Đương quy 60g. Cùng tán
bột, mỗi lần dùng 8g, nước 1 chén rượu 1/2 chén, sắc lấy 1/2 chén uống ấm, ngày
uống 2 lần.
- Hoặc dùng bài Đào hồng tứ vật thang :
Xuyên khung 10g
|
Xuyên quy 12g
|
Địa hoàng 12g
|
Đào nhân 8g
|
Hồng hoa 6g
|
Bạch thược 10g
|
- Trường hợp huyết ứ mà băng huyết ra nhiều thì dùng bài
Chấn linh đan:
Xích thạch chi 160g
|
Chu sa 40g
|
Ngũ linh chi 80g
|
Vũ dư lương 160g
|
Tử thạch anh 160g
|
Nhũ hương 80g
|
Mộc dược 80g
|
Đại giả thạch 160
|
Vũ dư lương và Đại giả thạch: nung lửa, tôi vào giấm cho bở
ra.
Cùng đập vỡ thành cục nhỏ, bỏ vào nồi đất, lấy bùn lẫn muối
trát kín nồi lại đợt khô, dùng 10 cân than củi nung đỏ hồng, hết lửa là được,
chôn xuống đất 2 hôm cho ra hết hoả độc. Tất cả các vị tán bột, lấy bột nếp nấu
hồ làm hoàn bằng hạt đậu đen phơi khô, mỗi lần uống 1 viên với giấm lúc đói,
ngày uống 2 lần.
- Trường hợp sang thương bị băng huyết, bụng đau cự án thì
dùng bài Trục ứ chỉ huyết thang.
Sinh địa 12g
|
Quy bản 12g
|
Chỉ xác 6g
|
Xích thược 10g
|
Đại hoàng 8g
|
Quy vĩ 12g
|
Đan bì 12g
|
Đào nhân 8g
|
- Trường hợp Băng huyết ra nhiều máu cục, đau bụng dữ dội,
sắc mặt nhợt nhạt, chân tay giá lạnh, mồ hôi nhiều dùng ngay Nhân sâm định
thống tán:
Nhân sâm 20g Bồ hoàng
20g.
4. Thể khí uất:
a. Triệu chứng: Bồng nhiên băng huyết, rong kinh máu ra rất
nhiều, hoặc dầm dề lâu ngày không dứt, sắc đen tím hoặc như bình thường lẫn có
máu cục, bụng dưới trướng đau, ấn đau, thậm chí đau lên ngực và sườn, phiền
thao dễ cáu gắt, thỉnh thoảng lại thở dài, rêu lưỡi dày, mạch huyền.
b. Phương pháp điều trị: Bình can giải uất, mượn lấy chỉ
huyết.
c. Bài thuốc: Khai uất tứ vật thang
Thục địa 12g
|
Bạch thược 12g
|
Đương quy 12g
|
Xuyên khung 6g
|
Hoàng kỳ 10g
|
hương phu 12g
|
Địa du 8g
|
Bồ hoàng 8g
|
Nhân sâm 8g
|
Bạch truật 12g
|
- Trường hợp uất lâu hoá hoả gây miệng đắng, họng khô mạch
huyền sác thì dùng bài Đan chi tiêu giao tán gia Địa du:
Sài hồ 8g
|
Bạch truật 12g
|
Bạch linh 12g
|
Đan bì 8g
|
Cam thảo 4g
|
Bạc hà 6g
|
Sinh khương 4g
|
Chi tử 8g
|
Bạch thược 12g
|
Đương quy 8g
|
+ Hoặc dùng Bình can khai uất chỉ huyết thang:
Sài hồ 8g
|
Kinh giới tuệ 8g
|
Đan bì 12g
|
Bạch truật 12g
|
Cam thảo 4g
|
Sinh địa 12g
|
Bạch thược 12g
|
Tam thất căn 12g
|
Đương quy 12g
|
+ Bài thuốc kinh nghiệm:
Ngũ linh chi sao16
|
Bồ hoàng thán 12
|
||
Ô tặc cốt nung 6g
|
Hương phụ 16g
|
Tán bột ngày uống 16g chia 2 lần.


0 nhận xét:
Đăng nhận xét